Đọc sứ điệp “Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình”
CL&HB - Đăng ngày 16-2-2016 2:59 PM GMT+7 - Lượt xem: 1271

Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 44 tập trung vào đề tài “Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình”. Trong buổi họp báo giới thiệu sứ điệp, Hồng y Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý Hòa bình, nói rằng Đức Bênêđictô chọn đề tài này “vì việc sống tự do tôn giáo – một ơn gọi căn ản của nhân loại và một quyền con người nền tảng, bất khả chuyển nhượng, và là chìa khóa cho hòa bình – đã bị căng thẳng và đe dọa nghiêm trọng”.

Đức Phaolô VI đã thiết lập ngày 1 tháng giêng là Ngày Hoà bình Thế giới và kể từ năm 1968 trở đi, vào ngày đầu năm dương lịch, các đức giáo hoàng đều chia sẻ một sứ điệp hoà bình với thế giới. Đức Bênêđictô viết sứ điệp hoà bình năm 2011 sau khi có 52 người tín hữu Công giáo bị giết ngày 31 tháng 10 năm 2010 trong khi cử hành Thánh lễ tại Bátđa. Trước biến cố bi thảm đó, ngài chọn đề tài là “Tự Do Tôn Giáo, Con Đường Dẫn Đến Hòa Bình”. Ngài nhắc ta rằng “Quyền tự do tôn giáo có căn cội trong chính phẩm giá con người”, là nội dung chính của Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo của Công đồng Vatican II.

Chúng ta hãy cùng đọc lại sứ điệp này trong một cố gắng tìm hiểu về quyền tự do tôn giáo – một nhân quyền cơ bản, chìa khóa cho hoà bình, và một đề tài trung tâm của Giáo huấn Xã hội Công giáo – qua Sứ điệp Hoà bình cuối cùng của Đức Bênêđictô trong bối cảnh quyền ấy vẫn còn đang bị xâm hại, mà nạn nhân chính, “các tín hữu Kitô là nhóm tôn giáo đang phải chịu nhiều cuộc bách hại nhất vì đức tin”.

Sứ điệp Hoà bình có nội dung rất phong phú, bàn về 15 điểm dưới đây.

1. Bất khoan dung tôn giáo – một đe dọa đến an ninh và hoà bình 

Đức thánh cha cho rằng “tự do tôn giáo là phương thế để kiểm chứng xem tất cả các nhân quyền khác có được tôn trọng hay không” (5). “Thật là đau lòng khi nhận thấy tại một số miền trên thế giới, người ta không thể tuyên xưng và tự do biểu lộ tôn giáo của mình, vì có nguy cơ bị mất mạng và mất tự do bản thân. Tại các miền khác, có những hình thức âm thầm và tinh vi hơn qua những thành kiến và chống đối các tín hữu và các biểu tượng tôn giáo”.

Ngài nhận định: “Hiện nay các tín hữu Kitô là nhóm tôn giáo đang phải chịu nhiều cuộc bách hại nhất vì đức tin. Bao nhiêu người hằng ngày phải chịu những xúc phạm và thường sống trong sợ hãi vì sự tìm kiếm của họ đối với chân lý, vì niềm tin của họ nơi Chúa Giêsu Kitô và lời kêu gọi chân thành của họ yêu cầu nhìn nhận tự do tôn giáo. Tất cả những điều ấy không thể chấp nhận được, vì đó là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa và phẩm giá con người; hơn nữa, đó là một đe dọa an ninh và hòa bình, và nó ngăn cản việc thực thi sự phát triển toàn diện đích thực cho con người”.

2. Quyền thánh thiêng được sống và có đời sống tinh thần

“Quyền tự do tôn giáo có căn cội trong chính phẩm giá con người, và không thể làm ngơ không biết tới hoặc lơ là bản tính siêu việt của con người. Thiên Chúa đã dựng nên con người nam nữ theo hình ảnh giống Ngài (xc. St 1,27). Vì thế, mỗi người đều có quyền thánh thiêng là có một cuộc sống toàn vẹn về phương diện tinh thần. Nếu không nhìn nhận bản chất tinh thần của mình, không cởi mở đối với siêu việt, thì con người sẽ co cụm vào mình, không tìm được những câu trả lời cho những vấn nạn của tâm hồn mình về ý nghĩa cuộc sống và không thủ đắc được những giá trị và nguyên tắc luân lý lâu bền. Họ cũng không cảm nghiệm được tự do chân thực cũng như không phát triển một xã hội công chính”.

3. Tự do tôn giáo và sự tôn trọng nhau

“Tự do tôn giáo ở căn cội tự do luân lý. Thật vậy, sự cởi mở đối với chân lý và sự thiện, cởi mở đối với Thiên Chúa, có nguồn cội nơi bản tính con người, mang lại phẩm giá trọn vẹn cho mỗi người và là bảo đảm sự tôn trọng giữa con người với nhau một cách trọn vẹn. […] Một tự do thù nghịch và dửng dưng đối với Thiên Chúa rốt cục sẽ chối bỏ chính tự do và không bảo đảm sự tôn trọng hoàn toàn đối với tha nhân”.

4. Gia đình, trường dạy tự do và hòa bình

“Nếu tự do tôn giáo là con đường dẫn đến hòa bình, thì giáo dục tôn giáo là con đường ưu tiên để giúp giới trẻ có khả năng nhìn nhận tha nhân là anh em, chị em của mình, cùng tiến bước và cộng tác để tất cả mọi người cảm thấy mình là những phần tử sinh động của cùng một gia đình nhân loại, và không ai bị loại khỏi gia đình này.

Ngài xem “gia đình dựa trên hôn nhân, biểu lộ sự kết hiệp thân mật và bổ túc giữa người một người nam và một người nữ” là “trường học đầu tiên để huấn luyện và làm tăng trưởng con cái về mặt xã hội, văn hóa, luân lý và tinh thần, chúng phải luôn luôn có thể tìm được nơi cha mẹ những chứng nhân đầu tiên về một cuộc sống hướng về sự tìm kiếm chân lý và tình thương của Thiên Chúa. Chính các cha mẹ phải luôn được tự do và với tinh thần trách nhiệm thông truyền gia sản đức tin, các giá trị và văn hóa của mình cho con cái mà không bị cưỡng bách. Gia đình, tế bào đầu tiên của xã hội loài người, vẫn là môi trường đầu tiên để huấn luyện về những quan hệ hòa hợp ở mọi cấp độ của sự sống chung giữa con người, quốc gia và quốc tế”.

5. Một gia sản chung

“Khi tự do tôn giáo được nhìn nhận, thì phẩm giá con người được tôn trọng trong căn cội của nó và luân lý cũng như các định chế của các dân tộc được củng cố. Trái lại, khi tự do tôn giáo bị chối bỏ, khi toan tính ngăn cản việc tuyên xưng tôn giáo hoặc tín ngưỡng và cuộc sống phù hợp với tôn giáo, thì người ta xúc phạm đến phẩm giá con người, và đồng thời đe dọa công lý và hòa bình, là những điều dựa trên trật tự ngay thẳng của xã hội được xây dựng dưới ánh sáng của Sự Thật và Sự Thiện Tối Cao.

[…] Qui định quốc tế nhìn nhận rằng các quyền về tôn giáo có cùng qui chế như quyền sống và tự do cá nhân, vì chúng thuộc về nòng cốt các quyền con người, thuộc về các quyền phổ quát và tự nhiên mà nhân luật không bao giờ có thể chối bỏ.

Tự do tôn giáo không phải là một gia sản độc quyền của các tín hữu, nhưng của toàn thể gia đình các dân tộc trên trái đất”.

6. Chiều kích công cộng của tôn giáo

“Tự do tôn giáo, cũng như mọi quyền tự do khác, tuy ở trong lĩnh vực bản thân, nhưng cũng được thực hiện trong tương quan với tha nhân. Một tự do không có tương quan thì không phải là tự do đầy đủ. Cả tự do tôn giáo cũng không đóng khung trong chiều kích cá nhân mà thôi, nhưng được thể hiện trong cộng đoàn và xã hội của mình, phù hợp với đặc tính của con người là một hữu thể có tương quan và với bản chất công khai của tôn giáo.

Đặc tính có quan hệ là một yếu tố quyết định của tự do tôn giáo, thúc đẩy cộng đoàn các tín hữu thực thi tình liên đới để mưu công ích. Trong chiều kích cộng đoàn này, mỗi người vẫn giữ nguyên đặc tính có một không hai và không thể sao lại, và đồng thời được bổ túc và thể hiện trọn vẹn.

Một điều không thể phủ nhận là sự đóng góp mà cộng đoàn tôn giáo mang lại cho xã hội. Có nhiều tổ chức từ thiện và văn hóa chứng tỏ vai trò xây dựng của các tín hữu cho đời sống xã hội. Điều quan trọng hơn nữa chính là sự đóng góp của tôn giáo về luân lý đạo đức trong lĩnh vực chính trị. Không được gạt bỏ hoặc cấm đoán sự đóng góp này, nhưng phải hiểu đây là một đóng góp giá trị cho sự thăng tiến công ích. Trong viễn tượng này cần nói đến chiều kích tôn giáo của văn hóa, được hình thành qua bao thế kỷ nhờ những đóng góp của tôn giáo về mặt xã hội và nhất là về luân lý đạo đức. Chiều kích này không hề tạo nên một sự kỳ thị những người không chia sẻ cùng một tín ngưỡng, trái lại nó củng cố sự đoàn kết xã hội, sự hội nhập và liên đới.

7. Tự do tôn giáo, sức mạnh của tự do và văn minh: những nguy cơ bị lợi dụng

“Sự lợi dụng tự do tôn giáo để che đậy những lợi lộc thầm kín, ví dụ để lật đổ trật tự đã được thiết định, chiếm hữu tài nguyên hoặc duy trì quyền bính từ phía một phe nhóm, có thể tạo nên những tai hại rất lớn cho xã hội. Thái độ cuồng tín, cực đoan, những hành động trái với phẩm giá con người, không bao giờ có thể biện minh được và càng không thể thực hành những điều đó nhân danh tôn giáo. Không thể lợi dụng sự tuyên xưng một tôn giáo và cũng không thể áp đặt sự tuyên xưng ấy bằng võ lực. Vì thế, các quốc gia và các cộng đồng con người không bao giờ được quên rằng tự do tôn giáo là điều kiện để tìm kiếm sự thật và không thể bị áp đặt sự thật bằng bạo lực nhưng bằng “sức mạnh của chính sự thật”. Theo ý nghĩa đó, tôn giáo là sức mạnh tích cực và là động lực thúc đẩy xây dựng xã hội dân sự và chính trị.

[…] Sự chân thành tìm kiếm Thiên Chúa đã đưa tới sự tôn trọng nhiều hơn đối với phẩm giá con người. Các cộng đồng Kitô, với gia sản các giá trị và nguyên tắc của mình, đã đóng góp nhiều cho sự ý thức về con người và các dân tộc về căn tính và phẩm giá của mình, và cho sự chinh phục của các định chế dân chủ, cũng như cho sự củng cố các quyền con người và những nghĩa vụ tương ứng.

Ngày nay, trong một xã hội ngày càng toàn cầu hóa, các tín hữu Kitô cũng được mời gọi, không những qua sự dấn thân trách nhiệm về mặt dân sự, kinh tế và chính trị, nhưng còn qua chứng tá tin yêu của mình, góp phần quí giá vào công trình, tuy cam go nhưng rất phấn khởi, cho công lý, cho sự phát triển toàn diện con người và cho trật tự đúng đắn của các thực tại con người. Sự loại trừ tôn giáo ra khỏi lĩnh vực công cộng tước bỏ môi trường sinh tử đó của xã hội, một môi trường cởi mở hướng về siêu việt”.

8. Một vấn đề công lý và văn minh: trào lưu cực đoan và sự thù nghịch đối với các tín hữu làm thiệt hại cho đặc tính đời tích cực của Nhà nước

“… trào lưu tôn giáo cực đoan (duy căn) và duy đời là những hình thức tương ứng và cực đoan của sự phủ nhận đa nguyên hợp pháp và nguyên tắc đời. Thật vậy cả hai thái độ đó đều tuyệt đối hóa nhân sinh quan hẹp hòi và phiếm diện, trong trường hợp thứ nhất, nó tạo điều kiện dễ dàng cho những hình thức tôn giáo thủ cựu và trong trường hợp thứ hai nó cổ võ chủ thuyết duy lý. Xã hội nào muốn dùng bạo lực để áp đặt, hoặc ngược lại, phủ nhận tôn giáo, là một xã hội bất công đối với con người và Thiên Chúa, và đối với cả chính mình nữa. Thiên Chúa kêu gọi nhân loại đến với Ngài trong ý định yêu thương, ý định này liên hệ tới toàn thể con người trong chiều kích tự nhiên và tinh thần, và đòi con người phải đáp lại trong tự do và trách nhiệm, với trọn tâm hồn và trọn hữu thể của mình, theo chiều kích cá nhân và cộng đoàn.

Vì thế, cả xã hội, trong tư cách là một sự biểu hiện con người và toàn thể các chiều kích cấu thành của con người, cũng phải sống và được tổ chức làm sao để giúp con người cởi mở đối với siêu việt. Chính vì thế, không thể thiết lập các luật lệ và định chế của xã hội mà không để ý tới chiều kích tôn giáo của các công dân hoặc hoàn toàn loại bỏ chiều kích ấy. Nhờ sự tham gia trong tinh thần dân chủ của mọi công dân ý thức về ơn gọi cao cả của mình, các luật lệ và định chế phải tương xứng với con người để có thể giúp con người trong chiều kích tôn giáo của họ. Vì không phải là điều do Nhà Nước tạo nên, nên chiều kích tôn giáo không thể bị Nhà Nước lèo lái; đúng hơn, Nhà Nước phải nhìn nhận và tôn trọng chiều kích ấy.

Hệ thống luật pháp ở mọi cấp độ, quốc gia và quốc tế, khi cho phép hoặc tỏ ra dung dưỡng trào lưu cuồng tín về tôn giáo hoặc chống tôn giáo thì hệ thống ấy lỗi sứ mạng của mình là bảo vệ và thăng tiến công lý cũng như quyền của mọi người”.

9. Đối thoại giữa các tổ chức dân sự và tôn giáo

Phải luôn luôn tôn trọng chiều kích công cộng của tôn giáo, trong niềm tôn trọng đặc tính đời tích cực của các tổ chức quốc gia. Với mục đích đó, một điều cơ bản là phải thiết lập sự đối thoại lành mạnh giữa các tổ chức dân sự và tôn giáo để phát triển toàn diện con người và sự hòa hợp xã hội”.

10. Sống trong tình thương và sự thật

“Trong thế giới toàn cầu hóa, làm cho xã hội ngày càng đa chủng tộc và đa tôn giáo, các tôn giáo lớn có thể là một yếu tố quan trọng giúp đoàn kết và mang lại hòa bình cho gia đình nhân loại. Từ những xác tín tôn giáo của mình và tìm kiếm công ích hợp lý, các tín đồ tôn giáo được mời gọi sống sự dấn thân của mình với tinh thần trách nhiệm trong một bối cảnh tự do tôn giáo. Giữa những nền văn hóa tôn giáo khác nhau, phải loại bỏ tất cả những gì trái ngược phẩm giá người nam và người nữ, và đối lại, cần phải đón nhận tất cả những gì là tích cực cho sự sống chung dân sự như một kho tàng quí giá.

[…]Về phần các tín hữu Kitô, họ được niềm tin nơi Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô kêu gọi hãy sống như anh em, gặp gỡ nhau trong Giáo Hội và cộng tác vào việc xây dựng một thế giới trong đó cá nhân và các dân tộc, sẽ “không còn làm điều ác và bạo hành…”).

11. Đối thoại như một sự cùng nhau tìm kiếm

“Đối với Giáo Hội, việc đối thoại giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau là một phương thế quan trọng để cộng tác với tất cả các cộng đoàn tôn giáo hầu mưu công ích. Giáo Hội cũng không loại bỏ những gì là chân thật và thánh thiêng trong các tôn giáo khác. “Giáo Hội chân thành tôn trọng những lối sống và hành động, các giới luật và đạo lý ấy, dù chúng khác biệt trong nhiều điểm với những gì Giáo Hội tuyên xưng và đề nghị, nhưng nhiều khi chúng cũng phản ảnh một tia sáng chân lý soi chiếu cho tất cả mọi người”.

Con đường như thế không phải là con đường duy tương đối hoặc tổng hợp tôn giáo. Thật vậy, Giáo Hội “loan báo và bó buộc phải loan báo, Đức Kitô là “đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), nơi Người con người phải tìm được sự viên mãn của đời sống tôn giáo và trong Người Thiên Chúa đã hòa giải với mình tất cả mọi sự”. Điều này không loại bỏ đối thoại và sự cùng nhau tìm kiếm sự thật trong các lĩnh vực sinh tử, như một câu nói thường được thánh Tômasô Aquinô sử dụng, ”Mọi chân lý, bất kỳ do ai nói lên, đều đến từ Thánh Linh”.

Đức thánh cha nhận xét “năm 2011 là năm kỷ niệm 25 năm Ngày Thế giới cầu nguyện cho hòa bình, được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II triệu tập tại Assisi năm 1986. Trong dịp đó các vị lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới đã chứng tỏ rằng tôn giáo là một yếu tố đoàn kết và hòa bình, chứ không phải là yếu tố chia rẽ và xung đột. Kỷ niệm kinh nghiệm ấy là một động lực thúc đẩy hy vọng một tương lai trong đó tất cả các tín hữu đều cảm thấy và thực sự trở thành những người kiến tạo công lý và hòa bình”.

12. Sự thật luân lý trong chính trị và ngoại giao

“Chính trị và ngoại giao phải nhìn gia sản luân lý và tinh thần do các tôn giáo lớn trên thế giới mang lại để công nhận và khẳng định chân lý, các nguyên tắc và các giá trị phổ quát mà nếu phủ nhận chúng, thì đồng thời người ta cũng chối bỏ chính phẩm giá con người”.

13. Khắc phục oán ghét và thành kiến

“Mặc dù có những bài học lịch sử và sự dấn thân của các quốc gia, các Tổ chức quốc tế trên bình diện hoàn cầu và địa phương, cũng như của các Tổ chức phi chính phủ và của mọi người nam nữ thiện chí hằng ngày xả thân bảo vệ các quyền và tự do căn bản, trên thế giới ngày nay người ta ghi nhận vẫn còn những cuộc bách hại, kỳ thị, những hành vi bạo lực và bất bao dung dựa trên tôn giáo.

[…] Rồi như tôi đã nói, có những hình thức tinh vi hơn thù nghịch chống lại tôn giáo, tại các nước Tây phương, những hình thức này đôi khi được biểu lộ qua sự chối bỏ lịch sử và các biểu tượng tôn giáo trong đó có phản ánh căn tính và văn hóa của đại đa số công dân. Những hình thức đó thường nuôi dưỡng oán ghét và thành kiến, và không phù hợp với quan niệm trong sáng và quân bình về sự đa nguyên và đặc tính đời của các tổ chức chính quyền, không kể sự kiện các thế hệ trẻ có nguy cơ không được tiếp xúc với gia sản tinh thần quí giá của quê hương họ.

Việc bảo vệ tôn giáo được thể hiện qua sự bảo vệ các quyền và tự do của các cộng đoàn tôn giáo. Các vị lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới và các vị lãnh đạo quốc gia cần tái quyết tâm dấn thân thăng tiến và bảo vệ tự do tôn giáo, đặc biệt là bảo vệ các nhóm tôn giáo thiểu số, các nhóm này không phải là một đe dọa chống lại căn tính của nhóm đa số, nhưng trái lại họ là cơ hội để đối thoại và làm cho nhau được thêm phong phú về văn hóa”.

14. Tự do tôn giáo trên thế giới

“Sau cùng, tôi ngỏ lời với các cộng đồng Kitô đang bị bách hại, kỳ thị, phải chịu những hành vi bạo lực và bất bao dung, đặc biệt tại Á, Phi, Trung Đông, và nhất là tại Thánh Địa, nơi đã được Thiên Chúa ưu tuyển và chúc lành. Trong khi tôi tái bày tỏ với họ lòng quý mến hiền phụ và đoan hứa cầu nguyện cho họ, tôi xin tất cả các vị hữu trách hãy mau lẹ hành động để chấm dứt mọi bạo hành chống các Kitô hữu cư ngụ tại các miền ấy. Ước gì các môn đệ Chúa Kitô, đứng trước những nghịch cảnh hiện tại, vẫn không nản chí, vì việc làm chứng cho Tin Mừng đang và sẽ luôn luôn là dấu chỉ chống đối!

Chúng ta hãy suy niệm trong lòng những lời của Chúa Giêsu: “Phúc cho những người khóc lóc, vì họ sẽ được an ủi [..]. Phúc cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no đầy [..] Phúc cho các con khi người ta lăng mạ, bách hại các con, và nói xấu đủ điều chống lại các con vì Thầy. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng các con thật lớn lao ở trên trời” (Mt 5,4-12). Vậy chúng ta tái “quyết tâm thực thi bao dung và tha thứ, mà chúng ta cầu xin trong kinh Lạy Cha, coi đó như điều kiện và mẫu mực để được lòng từ bi mong ước. Thật vậy, chúng ta cầu nguyện thế này “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6,12) (17). Không thể thắng bạo lực bằng bạo lực. Cần phải luôn làm cho tiếng kêu đau thương của chúng ta được đức tin, cậy và chứng tá về tình thương của Thiên Chúa đi kèm. Tôi cũng mong ước rằng tại Tây phương, đặc biệt tại Âu châu, sẽ chấm dứt những thái độ thù nghịch và những thành kiến chống các tín hữu Kitô chỉ vì họ muốn làm cho cuộc sống của họ phù hợp với các giá trị và nguyên tắc đã được diễn tả trong Tin Mừng”.

15. Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hòa bình

Ngài nói: “Thế giới cần đến Thiên Chúa. Cần những giá trị luân lý đạo đức và tinh thần, phổ quát và chung, và tôn giáo có thể cống hiến một sự đóng góp quí giá trong việc tìm kiếm các giá trị ấy để xây dựng một trật tự xã hội công chính và hòa bình, trên bình diện quốc gia và quốc tế.

Hòa bình là một hồng ân của Thiên Chúa và đồng thời là một dự phóng cần phải thực hiện, nhưng không bao giờ hoàn tất trọn vẹn. Một xã hội được hòa giải với Thiên Chúa thì gần gũi với hòa bình hơn, và hòa bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, không phải chỉ là thành quả của sự thống trị kinh tế hoặc chính trị và càng không phải là kết quả của những gian xảo lừa đảo hoặc những lèo lái khéo léo. Trái lại, hòa bình là kết quả của một tiến trình thanh tẩy và nâng cao văn hóa, luân lý và tinh thần của mỗi người và mỗi dân tộc, trong đó phẩm giá con người được hoàn toàn tôn trọng. Tôi mời gọi tất cả những ai muốn trở thành người xây dựng hòa bình, nhất là người trẻ, hãy lắng nghe tiếng nói trong nội tâm mình, để tìm thấy nơi Thiên Chúa điểm tham chiếu vững bền hầu đạt tới tự do chân chính, sức mạnh vô tận để định hướng thế giới với một tinh thần mới mẻ, có khả năng không tái phạm những lỗi lầm quá khứ.

[…] Tự do tôn giáo là võ khí đích thực của hòa bình, với sứ mạng lịch sử và ngôn sứ. Thật vậy tự do tôn giáo đề cao giá trị và làm cho những phẩm tính và tiềm năng sâu xa nhất của con người được kết quả, có khả năng thay đổi và cải tiến thế giới”.

 

Đinh Quang Bàn


nghe - xem

Video toàn cảnh Toạ đàm và Lễ ra mắt Uỷ Ban CLHB/HĐGMVN - See more at: http://conglyvahoabinh.org/video-toan-canh-toa-dam-va-le-ra-mat-uy-ban-clhbhdgmvn/2011/11/#sthash.seUuVaOo.dpuf
Video toàn cảnh Toạ đàm và Lễ ra mắt Uỷ Ban CLHB/HĐGMVN - See more at: http://conglyvahoabinh.org/video-toan-canh-toa-dam-va-le-ra-mat-uy-ban-clhbhdgmvn/2011/11/#sthash.seUuVaOo.dpuf

Video toàn cảnh Toạ đàm và Lễ ra mắt Uỷ Ban CLHB/HĐGMVN (1)

tư liệu
liên kết website